Ngày 122

Chúa Muốn Làm Bạn Kinh Ngạc

Khôn ngoan Thi thiên 54:1-7
Tân ước Giăng 2:1-25
Cựu Ước Giô-suê 19:1-21:19

Giới thiệu

Ở tuổi mười tám, tôi bắt đầu đọc toàn bộ Tân Ước với mục đích là bác bỏ Cơ đốc giáo. Khi đọc, tôi ngạc nhiên nhận ra rằng mình đã bị thuyết phục rằng Kinh Thánh là đúng. Và cuối cùng điều mà tôi muốn làm lại là 'trở thành một Cơ đốc nhân'. Tôi nghĩ rằng điều đó sẽ hủy hoại cuộc sống của tôi và khiến nó trở nên tẻ nhạt vì nó ngăn lại những thú vui của tôi. Tuy nhiên, trong thâm tâm, tôi biết rằng đó là sự thật, tôi cảm thấy mình không còn lựa chọn nào khác ngoài việc nói ‘xin vâng’ với Chúa Giê-su.

Khoảnh khắc tôi làm như vậy – tôi xin được sử dụng những từ mà C.S. Lewis đã dùng để mô tả kinh nghiệm gặp gỡ Chúa Giê-su của chính ông – tôi đã ‘vui mừng một cách kinh ngạc’. Kể từ đó, Chúa Giê-su chưa bao giờ ngừng làm tôi kinh ngạc.

Chúa là Chúa của những điều lạ lùng. Chúa Giê-su liên tục làm những người theo Ngài phải kinh ngạc và Ngài muốn tiếp tục làm bạn kinh ngạc.

Khôn ngoan

Thi thiên 54:1-7

Huấn ca của Đa-vít, sáng tác cho nhạc trưởng. Dùng nhạc cụ bằng dây. Khi người Xíp đến nói với Sau-lơ rằng: “Không phải Đa-vít đang ẩn núp giữa chúng ta sao?”

1 Đức Chúa Trời ôi! Xin lấy danh Chúa mà cứu con,
   Dùng quyền năng Chúa mà xét xử công minh cho con.
2 Lạy Đức Chúa Trời, xin nghe lời cầu nguyện con,
   Lắng tai nghe các lời của miệng con.

3 Vì kẻ xa lạ nổi lên chống lại con,
   Người hung bạo tìm hại mạng sống con:
   Chúng không để Đức Chúa Trời đứng trước mặt mình. (Sê-la)

4 Nầy, Đức Chúa Trời giúp đỡ con,
   Chúa là Đấng nâng đỡ linh hồn con.
5 Ngài sẽ báo trả kẻ thù của con về tội ác chúng;
   Xin Chúa hủy diệt chúng theo sự thành tín của Ngài.

6 Lạy Đức Giê-hô-va, con sẽ dâng lên Ngài tế lễ tình nguyện;
   Con cũng sẽ cảm tạ danh Ngài vì điều đó là tốt lành.
7 Vì Ngài giải cứu con khỏi mọi gian truân;
   Mắt con thấy kẻ thù của con bị báo trả.

Bình luận

Kinh ngạc trước sự cứu giúp của Chúa

Ngay cả khi các cuộc tấn công là hợp lý hoặc có chút hợp lý, chúng ta luôn bất ngờ khi bị tấn công bởi những người mà chúng ta không quen biết. Đa-vít nói, ‘kẻ xa lạ nổi lên chống lại con’ (c.3a). Tôi nhớ mình đã rất bất ngờ khi lần đầu tiên đọc các bài báo của những người mà tôi chưa từng gặp công kích Alpha, HTB và đôi khi là cá nhân tôi. Các cuộc tấn công bất ngờ có thể đến từ hàng xóm, đồng nghiệp hoặc các nguồn khác.

Nhưng điều mà tôi thấy bất ngờ hơn nữa là cách Đức Chúa Trời can thiệp để giúp chúng ta: ‘Ồ, xem này! Chúa ở ngay đây giúp đỡ!’ (c.4a, MSG), ‘Chúa là Đấng giúp đỡ và đồng minh của tôi’ (c.4a, AMP); Ngài nâng đỡ chúng ta (c.4b) và giải cứu chúng ta khỏi những khó khăn (c.7).

Khi tôi nhìn lại những gì mình đã trải qua, tôi thấy sự giải cứu không phải lúc nào cũng đến ngay lập tức; đôi khi mất vài tháng hoặc thậm chí nhiều năm. Tuy nhiên, tôi bị thách thức bởi phản ứng của David. Trong những cuộc tấn công, ông nói, 'Con sẽ dâng lên Ngài tế lễ tình nguyện; Con cũng sẽ cảm tạ danh Ngài vì điều đó là tốt lành.’ (c.6).

Mấu chốt của 'sự dâng hiến vui lòng' là không có điều kiện nào được đặt ra cho sự dâng hiến. Đa-vít không nói rằng ông sẽ chỉ dâng của lễ nếu Đức Chúa Trời giải cứu ông. Bất kể kết quả thế nào, ông quyết tâm ngợi khen Chúa vì lòng nhân từ của Ngài.

Nếu bạn đang phải đối mặt với sự tấn công, hãy tin tưởng vào Chúa, tin rằng Ngài muốn giúp bạn và khen ngợi Ngài trước.

Cầu nguyện

Lạy Cha, con cảm ơn Ngài vì một ngày nào đó con có thể nhìn lại và thấy rằng Ngài đã giải cứu con khỏi mọi rắc rối.

Tân ước

Giăng 2:1-25

Chức vụ của Chúa Jêsus tại Ga-li-lê và Giu-đê

Tiệc cưới tại Ca-na

1 Vào ngày thứ ba, có một tiệc cưới tại thành Ca-na trong miền Ga-li-lê; mẹ của Đức Chúa Jêsus có mặt tại đó. 2 Đức Chúa Jêsus và các môn đồ Ngài cũng được mời dự tiệc. 3 Khi rượu đã cạn, mẹ của Đức Chúa Jêsus nói với Ngài: “Người ta không còn rượu nữa.”

4 Đức Chúa Jêsus trả lời: “Thưa bà, việc nầy có liên can gì đến bà và tôi? Giờ của tôi chưa đến.”

5 Mẹ Ngài nói với những người phục vụ rằng: “Người bảo gì thì hãy làm y như vậy.”

6 Tại đó có sáu cái chum bằng đá dùng vào việc tẩy sạch theo lễ nghi Do Thái, mỗi cái chứa được hai ba thùng nước.

7 Đức Chúa Jêsus bảo họ: “Hãy đổ nước đầy những chum nầy.” Họ đổ đầy tới miệng.

8 Rồi Ngài lại bảo: “Bây giờ hãy múc ra, đem đến cho người quản tiệc.”

Vậy họ đem đến cho người ấy. 9 Khi người quản tiệc nếm nước đã biến thành rượu (nhưng không biết rượu đến từ đâu, còn những người phục vụ đã múc nước thì biết), ông gọi chàng rể 10 và nói: “Mọi người đều đãi rượu ngon trước, và khi người ta uống nhiều rồi mới đãi rượu kém hơn, nhưng anh thì giữ rượu ngon cho đến bây giờ.”

11 Đây là dấu lạ thứ nhất Đức Chúa Jêsus đã làm tại thành Ca-na, trong miền Ga-li-lê, và bày tỏ vinh quang Ngài nên các môn đồ tin Ngài.

12 Sau đó, Ngài cùng với mẹ, các em, và các môn đồ đi xuống thành Ca-bê-na-um và ở lại đó ít ngày.

Đức Chúa Jêsus vào đền thờ

13 Lễ Vượt Qua của dân Do Thái gần đến, Đức Chúa Jêsus đi lên thành Giê-ru-sa-lem. 14 Ngài thấy trong đền thờ có những kẻ bán bò, chiên, bồ câu, và những người đổi tiền đang ngồi. 15 Ngài bện một cái roi bằng dây, đuổi tất cả ra khỏi đền thờ, luôn cả chiên, bò; đổ tiền của người đổi tiền và lật bàn của họ. 16 Ngài bảo những người bán bồ câu rằng: “Hãy dẹp bỏ những thứ nầy khỏi đây, đừng làm cho nhà Cha Ta thành nhà buôn bán.” 17 Các môn đồ Ngài nhớ lại lời đã chép: “Lòng nhiệt thành về nhà Chúa thiêu đốt tôi.”

18 Người Do Thái hỏi Ngài: “Thầy có dấu lạ nào để chứng tỏ cho chúng tôi thấy Thầy có quyền làm điều nầy?”

19 Đức Chúa Jêsus đáp: “Hãy phá đền thờ nầy đi, trong ba ngày Ta sẽ dựng lại.

20 Người Do Thái lại nói: “Người ta xây dựng đền thờ nầy mất bốn mươi sáu năm, mà Thầy thì sẽ dựng lại trong ba ngày sao?” 21 Nhưng Ngài nói về đền thờ của thân thể Ngài. 22 Vì vậy, khi Ngài từ cõi chết sống lại, các môn đồ nhớ Ngài đã nói điều nầy, thì tin Kinh Thánh và lời Đức Chúa Jêsus đã nói.

23 Đang lúc Đức Chúa Jêsus ở tại thành Giê-ru-sa-lem trong dịp lễ Vượt Qua, nhiều người thấy các dấu lạ Ngài làm thì tin danh Ngài. 24 Nhưng Đức Chúa Jêsus không phó thác mình cho họ, vì Ngài biết rõ mọi người. 25 Ngài không cần ai làm chứng về người nào cả, vì chính Ngài biết rõ mọi điều trong lòng người.

Bình luận

Kinh ngạc bởi Chúa Giêsu

Chức vụ của Chúa Giê-su chứa đầy sự kinh ngạc. Chúa Giê-su không ngừng kêu gọi bạn tiến sâu hơn vào mối quan hệ của bạn với Ngài. Ngài muốn làm bạn ngạc nhiên theo những cách mới.

1. Sự sung mãn đáng kinh ngạc
Một số người có thể ngạc nhiên rằng không chỉ Chúa Giê-su và các môn đồ được mời dự tiệc (như tiệc cưới này), mà họ còn thực sự nhận lời và đi cùng. Vào thời điểm đó, tiệc cưới kéo dài khoảng một tuần. Đó là khoảng thời gian vô cùng vui vẻ và hân hoan – nơi mọi người mặc những bộ quần áo đẹp nhất, vui mừng, ca hát, nhảy múa, đùa giỡn, cười đùa và vui vẻ. Có lẽ điều đáng ngạc nhiên hơn nữa là thay vì lên án những người uống rượu, Chúa Giê-xu đã biến hơn 120 gallon nước tắm thành loại rượu ngon nhất (c.10). Chúa Giê-su làm mọi việc cách dư dật. Ngài muốn ban cho bạn ngày càng nhiều sức sống và niềm vui.

Chỉ đơn giản là cho Chúa Giê-su biết vấn đề là gì (‘Họ hết rượu rồi’, câu 3) và sau đó làm theo chỉ dẫn của Ngài (‘hãy làm bất cứ điều gì Ngài bảo các con’, câu 5), một phép lạ đáng kinh ngạc đã xảy ra. Chúa Giê-su không chỉ đáp ứng nhu cầu, mà Ngài còn đáp ứng vượt quá bất cứ điều gì họ có thể mong đợi hoặc thậm chí tưởng tượng. Người chủ tiệc kinh ngạc khi “nếm thử nước đã biến thành rượu” (c.9).

Điều này cũng đúng trong cuộc sống của chúng ta; Chúa Giê-su biến nước sống không có Ngài thành rượu sống có Ngài. Tôi từng nghĩ rằng đi theo Chúa Giê-su có nghĩa là một cuộc sống mà 'nhạt nhẽo'. Thực tế thì là điều ngược lại. Chúa Giê-su không ngừng làm chúng ta kinh ngạc về cách Ngài làm phong phú cuộc sống của chúng ta. Đặc biệt, chúng ta thấy ở đây là cách Ngài làm đám cưới trở nên sung mãn hơn và thực ra chính là hôn nhân. Ngài có thể biến nước của một cuộc hôn nhân bình thường thành rượu của một cuộc hôn nhân phong phú.

Chúa Giê-su biến sự cực nhọc và buồn tẻ thành niềm vui đầy trọn.

Qua phép lạ này Chúa Giêsu 'bày tỏ vinh quang của Ngài, và các môn đệ đặt niềm tin vào Ngài’ (c.11). Đối với nhiều người, đây hẳn là một sự bày tỏ đáng kinh ngạc.

2. Sự nhiệt huyết đáng kinh ngạc
Chúa Giê-su khiến mọi người kinh ngạc khi Ngài đi vào đền thờ và thấy những người bán gia súc, cừu, chim bồ câu và những người khác đang ngồi đổi tiền tại bàn: ‘những người đổi tiền đang ngồi’ (c.14, MSG).

Ngài bện một chiếc roi bằng dây và đuổi tất cả ra khỏi khu vực đền thờ. Ngài nói, “Hãy dẹp bỏ những thứ nầy khỏi đây, đừng làm cho nhà Cha Ta thành nhà buôn bán.” (c.16). Các môn đồ Ngài nhớ lại lời đã chép: “Lòng nhiệt thành về nhà Chúa thiêu đốt tôi.” (c.17).

Chúng ta bị bao quanh bởi thương mại hóa và những hình ảnh khiêu gợi. Các trung tâm mua sắm khổng lồ đang thay thế các nhà thờ. Tôn thờ tiền bạc và thương mại là mối nguy hiểm ngày nay.

Vào thời đó, thậm chí là bây giờ, việc kiếm tiền cản trở thờ phượng Đức Chúa Trời là một sự cám dỗ vô cùng lớn. Tất nhiên, thực tế vẫn có sự thờ phượng, cả trong đền thờ hay nhà thờ ngày nay. Tuy nhiên, khi đối tượng mà chúng ta tập trung vào là tiền, chúng ta đang gặp rắc rối nghiêm trọng. Chúa Giê-su làm người ta kinh ngạc vì sự nhiệt thành lớn lao của Ngài.

3. Nơi ở diệu kỳ
Chúa Giê-su định nghĩa lại 'đền thờ'. Thân xác Chúa Giêsu là đền thờ thật. Chúa Giê-su nói với họ: ‘Hãy phá đền thờ này đi, trong ba ngày Ta sẽ dựng lại’ (c.19). Đền thờ thật sẽ bị phá hủy, nhưng Đức Chúa Trời sẽ xây dựng lại sau ba ngày, qua sự phục sinh. Họ ngạc nhiên và không thể hiểu được điều này – họ hỏi Chúa Giê-su làm thế nào mà Ngài nghĩ rằng Ngài có thể xây dựng lại ngôi đền này chỉ trong ba ngày. Nhưng Giăng nói thêm, “Ngài nói về đền thờ của thân thể Ngài” (c.21).

Đền thờ rất quan trọng vì nó là nơi ở tượng trưng của Đức Chúa Trời. Đó là nơi Chúa và nhân loại gặp nhau. Những lời đáng ngạc nhiên này của Chúa Giêsu cho chúng ta thấy rằng chính Người là đền thờ mới. Ngài là nơi ở của Đức Chúa Trời trên đất.

Qua Chúa Giê-xu, giờ đây bạn được kêu gọi trở thành nhà, là nơi ở của Đức Chúa Trời. Thân thể bạn là đền thờ của Đức Thánh Linh (1 Cô-rinh-tô 6:19).

Đền thờ rất quan trọng vì nó là biểu trưng về nơi ở của Đức Chúa Trời. Đó là nơi Chúa và loài người gặp nhau. Những lời đáng ngạc nhiên này của Chúa Giê-su cho chúng ta thấy rằng chính Người là đền thờ mới. Ngài là nơi ở của Đức Chúa Trời trên đất.

Qua Chúa Giê-su, giờ đây bạn được kêu gọi trở thành nhà, là nơi ở của Đức Chúa Trời. Thân thể bạn là đền thờ của Đức Thánh Linh (1 Cô-rinh-tô 6:19).

4. Sự khôn ngoan đáng kinh ngạc
Khi người ta thấy những phép lạ Chúa Giê-su thực hiện và những gì ngài đang làm, nhiều người đã ‘tin danh Ngài’ (Giăng 2:23). “Nhưng,” Giăng nói với chúng ta, “Đức Chúa Jêsus không phó thác mình cho họ, vì Ngài biết rõ mọi người. 25Ngài không cần ai làm chứng về người nào cả, vì chính Ngài biết rõ mọi điều trong lòng người.’ (c.24–25).

Thật ngạc nhiên khi biết rằng Chúa Giê-su không tin tưởng những người này ngay lập tức – đặc biệt khi chúng ta đọc rằng tình yêu thương "tin mọi sự” (1 Cô-rinh-tô 13:7). Chúa Giê-su ý thức được bản chất thật của con người. Chúng ta có khuynh hướng tìm kiếm người phối ngẫu hoàn hảo, cha mẹ hoàn hảo, con cái hoàn hảo, bạn bè hoàn hảo, người lãnh đạo hoàn hảo và hội thánh hoàn hảo. Nhưng những điều này không tồn tại. Tất cả chúng ta đều là những con người thiếu sót.

Nhận ra điều này giúp chúng ta trở nên thực tế hơn và thất vọng ít hơn – và dễ tha thứ hơn trong các mối quan hệ của mình.

Chúng ta cần sự khôn ngoan của Chúa Giê-su trong sự giao thiệp và trong các mối quan hệ của chúng ta. Chúng ta cần cân bằng sự cởi mở và tin tưởng yêu thương với sự khôn ngoan và hiểu biết về trái tim con người.

Cầu nguyện

Lạy Chúa, cảm ơn vì Chúa Giê-xu. Xin giúp con nhìn lên Ngài hôm nay, để Ngài có thể làm con kinh ngạc một lần nữa với sự khôn ngoan, niềm đam mê, tình yêu và sự phong phú của Ngài.

Cựu Ước

Giô-suê 19:1-21:19

Địa phận của bộ tộc Si-mê-ôn

19 1 Bộ tộc thuộc con cháu Si-mê-ôn bắt thăm được phần đất thứ nhì theo từng gia tộc của họ. Sản nghiệp của bộ tộc nầy ở giữa sản nghiệp của con cháu Giu-đa. 2 Sản nghiệp của bộ tộc Si-mê-ôn gồm có:

Bê-e Sê-ba, Sê-ba, Mô-la-đa, 3 Hát-sa Su-anh, Ba-la, Ê-xem, 4 Ên-thô-lát, Bê-thu, Họt-ma, 5 Xiếc-lác, Bết Ma-ca-bốt, Hát-sa Su-sa, 6 Bết Lê-ba-ốt, và Sê-a-ru-chen: tất cả là mười ba thành cùng các làng mạc của chúng.

7 A-in, Rim-môn, Ê-the, và A-san. Tất cả là bốn thành cùng các làng mạc của chúng, 8 bao gồm tất cả các thị trấn chung quanh những thành ấy cho đến Ba-lát Bê-e, tức là Ra-ma ở miền Nê-ghép.

Đó là sản nghiệp của bộ tộc Si-mê-ôn theo từng gia tộc của họ. 9 Sản nghiệp của con cháu Si-mê-ôn lấy từ phần đất của người Giu-đa vì phần đất của con cháu Giu-đa rất rộng. Như vậy, con cháu Si-mê-ôn được sản nghiệp giữa phần đất của con cháu Giu-đa.

Địa phận của bộ tộc Sa-bu-lôn

10 Con cháu của Sa-bu-lôn bắt thăm được phần đất thứ ba theo từng gia tộc của họ. Ranh giới của họ chạy đến Sa-rít. 11 Ranh giới đi lên phía tây về hướng Ma-rê-a-la, gặp Đáp-bê-sết rồi đến suối đối diện Giốc-nê-am. 12 Từ Sa-rít, ranh giới vòng qua hướng đông, tức hướng mặt trời mọc, tiếp giáp Kít-lốt Tha-bô, rồi đi về hướng Đáp-bê-rát, và lên đến Gia-phia. 13 Từ đó, nó chạy về phía đông, tức hướng mặt trời mọc đến Gát Hê-phe và Ết Cát-sin, đi vòng qua Nê-a rồi đến Rim-môn. 14 Sau đó, ranh giới ấy vòng lên phía bắc về hướng Ha-na-thôn rồi dừng lại ở thung lũng Díp-thách Ên. 15 Nó gồm có các thành Cát-tát, Na-ha-la, Sim-rôn, Di-đê-a-la, và Bết-lê-hem. Tất cả là mười hai thành với các làng mạc của chúng.

16 Các thành nầy cùng các làng mạc của chúng là sản nghiệp của người Sa-bu-lôn theo từng gia tộc của họ.

Địa phận của bộ tộc Y-sa-ca

17 Con cháu Y-sa-ca bắt thăm được phần đất thứ tư theo từng gia tộc của họ. 18 Ranh giới của họ chạy đến

Gít-rê-ên, Kê-su-lốt, Su-nem, 19 Ha-pha-ra-im, Si-ôn, A-na-cha-rát, 20 Ra-bít, Ki-si-ôn, Ê-bết; 21 Rê-mết, Ên Ga-nim, Ên Ha-đa, và Bết Phát-sết. 22 Ranh giới nầy gặp Tha-bô, Sa-chát-si-ma, và Bết Sê-mết, rồi dừng lại ở sông Giô-đanh. Tất cả là mười sáu thành với các làng mạc của chúng. 23 Các thành nầy với những làng mạc của chúng là sản nghiệp của con cháu Y-sa-ca theo từng gia tộc của họ.

Địa phận của bộ tộc A-se

24 Bộ tộc thuộc con cháu A-se bắt thăm được phần đất thứ năm, theo từng gia tộc của họ. 25 Ranh giới nầy bao gồm:

Hên-cát, Ha-li, Bê-ten, Ạc-sáp, 26 A-lam-mê-léc, A-mê-át, và Mi-sê-anh. Phía tây gặp Cạt-mên và khe Líp-nát 27 rồi vòng qua phía mặt trời mọc, hướng về Bết Đa-gôn, gặp Sa-bu-lôn và thung lũng Díp-thách Ên ở về phía bắc Bết Ê-méc và Nê-i-ên, rồi chạy qua Ca-bun về phía trái, 28 đến Ếp-rôn, Rê-hốp, Ham-môn, Ca-na cho đến thành lớn Si-đôn. 29 Ranh giới nầy lại vòng về Ra-ma cho đến thành kiên cố Ty-rơ rồi chạy đến Hô-sa và dừng lại ở biển, trong vùng Ạc-xíp, 30 U-ma, A-phéc, và Rê-hốp. Tất cả là hai mươi hai thành cùng các làng mạc của chúng.

31 Các thành nầy và những làng mạc của chúng là sản nghiệp của con cháu thuộc bộ tộc A-se theo từng gia tộc của họ.

Địa phận của bộ tộc Nép-ta-li

32 Con cháu bộ tộc Nép-ta-li bắt thăm được phần đất thứ sáu theo từng gia tộc của họ.

33 Ranh giới của họ chạy từ Hê-lép, từ cây sồi ở Sa-na-nim, về hướng A-đa-mi Nê-kép và Giáp-nê-ên cho đến Lạc-cum rồi dừng lại ở sông Giô-đanh. 34 Sau đó, ranh giới nầy vòng về phía tây, đi đến Át-nốt Tha-bô rồi từ đó chạy về Hục-cốc. Phía nam giáp địa phận Sa-bu-lôn, phía tây giáp địa phận A-se và Giu-đa, phía mặt trời mọc giáp sông Giô-đanh. 35 Các thành kiên cố là: Xi-đim, Xe-rơ, Ha-mát, Ra-cát, Ki-nê-rết, 36 A-đa-ma, Ra-ma, Hát-so, 37 Kê-đe, Ết-rê-i, Ên Hát-so, 38 Gi-rê-ôn, Mít-đa-ên, Hô-rem, Bết A-nát, và Bết Sê-mết. Tất cả là mười chín thành cùng các làng mạc của chúng. 39 Các thành nầy với những làng mạc của chúng là sản nghiệp của bộ tộc thuộc con cháu Nép-ta-li theo từng gia tộc của họ.

Địa phận của bộ tộc Đan

40 Con cháu thuộc bộ tộc Đan bắt thăm được phần đất thứ bảy theo từng gia tộc của họ. 41 Ranh giới của họ gồm

Xô-rê-a, Ết-tha-ôn, Yết Sê-mết, 42 Sa-la-bin, A-gia-lôn, Gít-la, 43 Ê-lôn, Thim-na-tha, Éc-rôn, 44 Ên-the-kê, Ghi-bê-thôn, Ba-lát, 45 Giê-hút, Bê-nê Bê-rác, Gát Rim-môn, 46 Mê Giạt-côn, và Ra-côn, cùng với phần đất đối diện Gia-phô.

47 Khi địa phận của Đan bị xâm lấn, người Đan đi lên tiến đánh Lê-sem, dùng gươm diệt thành ấy, chiếm nó làm sản nghiệp và định cư tại đó, rồi gọi thành Lê-sem là Đan theo tên tổ phụ của họ.

48 Các thành nầy cùng với các làng mạc của chúng là sản nghiệp của bộ tộc Đan, theo từng gia tộc của họ.

Sản nghiệp của Giô-suê

49 Khi đã được chia đất theo từng địa phận rồi, dân Y-sơ-ra-ên lấy một phần sản nghiệp ở giữa họ mà cấp cho Giô-suê, con trai của Nun. 50 Dân Y-sơ-ra-ên tuân lệnh Đức Giê-hô-va cấp cho ông cái thành mà ông xin, là thành Thim-nát Sê-rách trong núi Ép-ra-im. Ông xây dựng thành và định cư tại đó.

51 Đó là các sản nghiệp mà thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, Giô-suê, con trai của Nun, và các trưởng gia tộc của các bộ tộc Y-sơ-ra-ên bắt thăm phân phát tại Si-lô, tại Lều Hội Kiến trước mặt Đức Giê-hô-va. Như vậy họ hoàn tất việc phân chia đất.

Sáu thành trú ẩn

20 1 Đức Giê-hô-va phán với Giô-suê: 2 “Hãy bảo dân Y-sơ-ra-ên lập các thành trú ẩn mà Ta đã phán với các con qua Môi-se 3 để cho kẻ vô ý giết người có thể trốn ở nơi ấy. Các thành đó sẽ là nơi ẩn lánh khỏi kẻ đòi nợ máu. 4 Kẻ ngộ sát sẽ chạy trốn đến một trong các thành ấy, đứng nơi cổng thành, trình bày sự việc cho các trưởng lão của thành ấy nghe. Các trưởng lão sẽ tiếp nhận người ấy vào thành, chỉ định một chỗ và người ấy sẽ ở đó với họ. 5 Nếu kẻ đòi nợ máu đuổi theo, các trưởng lão chớ nộp kẻ ngộ sát vào tay người ấy, vì kẻ sát nhân làm thiệt mạng người lân cận mình chỉ vì vô ý chứ không phải trước kia có hận thù gì với người nầy. 6 Kẻ ngộ sát phải ở trong thành ấy cho đến khi được xét xử trước hội chúng, và cho đến khi thầy tế lễ thượng phẩm đương chức qua đời. Khi đó, kẻ ngộ sát sẽ trở về thành và nhà mình, tức là thành mà mình đã trốn khỏi.”

7 Vậy dân Y-sơ-ra-ên biệt riêng thành Kê-đe ở Ga-li-lê, trên núi Nép-ta-li, thành Si-chem trên núi Ép-ra-im và thành Ki-ri-át A-ra-ba, tức là Hếp-rôn, trên vùng đồi núi Giu-đa. 8 Vùng bên kia sông Giô-đanh, phía đông thành Giê-ri-cô, họ chỉ định thành Bết-se trong hoang mạc, trên cao nguyên thuộc bộ tộc Ru-bên, thành Ra-mốt ở vùng Ga-la-át, thuộc bộ tộc Gát và thành Gô-lan ở vùng Ba-san, thuộc bộ tộc Ma-na-se. 9 Đó là các thành được chỉ định cho toàn dân Y-sơ-ra-ên và cho ngoại kiều cư trú tại đó để người nào vô ý làm thiệt mạng ai có thể trú ẩn ở đó mà không bị tay kẻ đòi nợ máu giết chết trước khi được đưa ra trước hội chúng.

Bốn mươi tám thành được cấp cho người Lê-vi

21 1 Bấy giờ, các trưởng gia tộc người Lê-vi đến với thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, Giô-suê, con trai của Nun và các trưởng gia tộc của các bộ tộc Y-sơ-ra-ên, 2 và nói với họ tại Si-lô trong xứ Ca-na-an rằng: “Đức Giê-hô-va đã truyền bảo Môi-se cấp cho chúng tôi các thành để ở và các đồng cỏ chung quanh dùng cho súc vật chúng tôi.” 3 Vậy dân Y-sơ-ra-ên vâng lệnh Đức Giê-hô-va, lấy trong sản nghiệp của họ những thành sau đây và những đồng cỏ chung quanh mà cấp cho người Lê-vi. 4 Các gia tộc Kê-hát bắt thăm được phần của mình: Con cháu của thầy tế lễ A-rôn về dòng Lê-vi bắt thăm được mười ba thành từ bộ tộc Giu-đa, bộ tộc Si-mê-ôn, và bộ tộc Bên-gia-min. 5 Con cháu khác của Kê-hát bốc thăm được mười thành từ bộ tộc Ép-ra-im, bộ tộc Đan, và phân nửa bộ tộc Ma-na-se.

6 Con cháu Ghẹt-sôn bốc thăm được mười ba thành từ bộ tộc Y-sa-ca, bộ tộc A-se, bộ tộc Nép-ta-li, và phân nửa bộ tộc Ma-na-se ở Ba-san.   7 Con cháu Mê-ra-ri, theo từng gia tộc của họ, được mười hai thành từ bộ tộc Ru-bên, bộ tộc Gát, và bộ tộc Sa-bu-lôn.   8 Dân Y-sơ-ra-ên bắt thăm cấp cho người Lê-vi các thành kể trên với các đồng cỏ chung quanh, đúng như Đức Giê-hô-va đã truyền phán qua Môi-se.   9 Dân Y-sơ-ra-ên lấy các thành có tên sau đây thuộc bộ tộc Giu-đa và bộ tộc Si-mê-ôn mà cấp cho họ. 10 Con cháu A-rôn thuộc các gia tộc Kê-hát, là con trai Lê-vi, được các thành ấy, vì thăm trúng về họ trước tiên.

11 Người ta cấp cho họ thành Ki-ri-át A-ra-ba, (A-ra-ba là cha của A-nác), tức là Hếp-rôn ở trên núi Giu-đa, và các đồng cỏ chung quanh nó. 12 Còn các cánh đồng của thành và các làng mạc của nó thì được cấp cho Ca-lép, con trai của Giê-phu-nê, làm sản nghiệp.  

13 Người ta cấp cho con cháu thầy tế lễ A-rôn thành Hếp-rôn, là thành trú ẩn cho kẻ ngộ sát, và các đồng cỏ chung quanh; Líp-na và các đồng cỏ chung quanh; 14 Giạt-thia và các đồng cỏ chung quanh; Ê-thê-mô-a và các đồng cỏ chung quanh; 15 Hô-lôn và các đồng cỏ chung quanh; Đê-bia và các đồng cỏ chung quanh; 16 A-in và các đồng cỏ chung quanh; Giu-ta và các đồng cỏ chung quanh; Bết Sê-mết và các đồng cỏ chung quanh. Đó là chín thành của hai bộ tộc nầy.

17 Người ta cũng lấy các thành từ bộ tộc Bên-gia-min mà cấp cho họ. Đó là thành Ga-ba-ôn và các đồng cỏ chung quanh; thành Ghê-ba và các đồng cỏ chung quanh; 18 thành A-na-tốt và các đồng cỏ chung quanh; thành Anh-môn và các đồng cỏ chung quanh. Tất cả là bốn thành.

19 Các thành của những thầy tế lễ, con cháu A-rôn, tất cả là mười ba thành với các đồng cỏ chung quanh.

Bình luận

Kinh ngạc bởi sự nhân đạo

Khi Pippa và tôi đi du lịch khắp thế giới, chúng tôi thường đến thăm các nhà tù địa phương. Ở một số quốc gia, hệ thống tư pháp có vẻ tương đối nhân đạo. Ở những nơi khác, điều kiện nhà tù và hình phạt được áp dụng có vẻ vô nhân đạo.

Chúng ta thường ngạc nhiên, thậm chí bị sốc trước những phần của luật Cựu Ước. Dân Y-sơ-ra-ên cũng ngạc nhiên, mặc dù theo một cách khác, bởi vì những luật này nhân đạo một cách đáng ngạc nhiên theo tiêu chuẩn thời bấy giờ.

Nếu xảy ra một tình huống có vẻ như là một vụ ngộ sát, một người có thể chạy vào thành trú ẩn. Sau đó, họ có thể ở lại, nếu sau phiên xét xử kẻ báo thù không chứng minh được đó là vụ giết người. Thành trú ẩn có nhiệm vụ bảo vệ họ cho đến lúc họ trở về (Giô-suê 20).

Những luật này bảo tồn sự thiêng liêng của sinh mạng con người. Sự sống của mỗi con người đều có giá trị vô hạn đối với Đức Chúa Trời. Khi mạng sống của một người bị cướp đi, cho dù là vô tình, đó là một vấn đề rất nghiêm trọng. Mặt khác, có một sự nhân đạo trong những luật này nhằm bảo vệ người đã vô tình giết người. Sự nhân đạo này có lẽ sẽ khiến những người ở thời điểm đó phải kinh ngạc.

Là con dân Chúa ngày nay, tất nhiên chúng ta nên tìm cách đảm bảo công lý, luật pháp công bằng, ngăn chặn và giảm thiểu tội phạm. Nhưng chúng ta cũng nên quan tâm đến việc đảm bảo hệ thống tư pháp của chúng ta là nhân đạo.

Cầu nguyện

Lạy Chúa, xin giúp con trong cuộc sống của chính con, cũng như trong xã hội, biết hướng tới những luật lệ công bằng và nhân đạo. Cảm ơn Cha vì tình yêu, lòng trắc ẩn và lòng thương xót của Ngài.

Pippa chia sẻ

Giăng 2:1–11

Tôi yêu đám cưới. Khi mỗi đứa con của chúng tôi kết hôn, có rất nhiều công việc chuẩn bị để tổ chức. Phân đoạn này nhắc nhở chúng ta rằng điều duy nhất thực sự quan trọng trong đám cưới là có Chúa Giê-su ở đó… (và Ngài thậm chí còn quan tâm đến những thứ thiết thực như rượu).

Sự tương tác giữa Chúa Giê-su và mẹ ngài thật cảm động. Chúng ta đã thấy niềm tin của Mary vào con trai mình.

reader

App

Tải xuống ứng dụng Kinh Thánh Trong Một Năm dành cho thiết bị iOS hoặc Android và đọc theo mỗi ngày.

reader

Email

Đăng ký ngay bây giờ để nhận Kinh thánh trong một năm trong hộp thư đến của bạn mỗi sáng. Bạn sẽ nhận được một email mỗi ngày.

reader

Website

Bắt đầu đọc sự tận tâm của ngày hôm nay ngay tại đây trên trang web BiOY.

Read now
reader

Book

Kinh thánh trong một năm bình luận có sẵn như là một cuốn sách.

Tham khảo

Surprised by Joy là tiêu đề của một cuốn sách bán tự truyện của C.S. Lewis, nhìn lại cuộc đời thời trẻ và sự chuyển đổi sang Cơ đốc giáo của ông.

Trừ khi có quy định khác, các trích dẫn Kinh thánh được lấy từ Kinh thánh, Phiên bản quốc tế mới được Anh hóa, Bản quyền © 1979, 1984, 2011 Biblica, trước đây là Hiệp hội Kinh thánh Quốc tế. Được sử dụng dưới sự cho phép của Hodder & Stoughton Publishers, một công ty của Hachette UK. Đã đăng ký Bản quyền. 'NIV' là nhãn hiệu đã đăng ký của Biblica. Nhãn hiệu Vương quốc Anh số 1448790.

Thánh Kinh được đánh dấu (MSG) lấy từ The Message. Bản quyền © 1993, 1994, 1995, 1996, 2000, 2001, 2002. Được sử dụng dưới sự cho phép của NavPress Publishing Group.

This website stores data such as cookies to enable necessary site functionality and analytics. Find out more